Bài viết tình hữu nghị Việt Nam Lào

Chủ đề: Những cảm nhận về nền văn hóa, về đất nước và con người Lào.

Chủ đề: Những cảm nhận về nền văn hóa, về đất nước và con người Lào.

 

Lào là một quốc gia có nguồn gốc lịch sử và văn hoá từ Vương quốc Lạn Xạng, quốc gia Lào hiện nay được mệnh danh là miền đất “Triệu Voi” (Lạn Xạng tức Triệu Voi). Nước Lào có tổng diện tích 236.800 km2, có đường biên giới giáp 5 nước: Phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây bắc giáp My-an-ma, phía tây giáp Thái Lan, phía nam giáp Căm-Pu-Chia và phía đông giáp Việt Nam. Lào có 17 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, trong đó có 10 tỉnh chung đường biên giới với Việt Nam với chiều dài 2067 km (Riêng đường biên giới chung với Quảng Trị là 206 km, gồm 2 tỉnh Savằnnkhet và Salavan). Rừng núi chiếm 3/4 diện tích, có nhiều lâm sản, động vật và khoáng sản quý hiếm. Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Có dòng Mê-công chảy từ bắc xuống nam dài 1865 km. Có núi Phu-bia cao 2820m so với mặt nước biển, là đỉnh cao nhất nước Lào. Có cố đô Luông-pha-ra-băng là di sản văn hoá thế giới, hàng năm thu hút rất nhiều khách du lịch.

Nước Lào còn hay được nhắc đến với tên xứ sở Chămpa, người anh em của Việt Nam. Nhân dân Lào có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp được hình thành trong lịch sử phát triển của dân tộc; một nền văn hóa có tính đặc sắc, độc đáo của riêng mình. Văn hóa, con người Lào và Việt Nam có khá nhiều nét tương đồng. Lào nằm ở nơi giao hội của hai nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa, người dân Lào đã hấp thụ những phong tục và tín ngưỡng của hai nền văn minh ấy để hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc, độc đáo của riêng mình. Nền văn hóa Lào cũng chịu ảnh hưởng đáng kể của Phật giáo. Sự ảnh hưởng này được phản ánh trong ngôn ngữ, nghệ thuật, văn học, âm nhạc… Tuy có những nét chung của văn hóa Đông Nam Á nhưng văn hóa Lào có rất nhiều nét riêng biệt. Văn hóa Lào gắn với Phật giáo, với dân số khoảng 7 triệu người và có tới 1.400 ngôi chùa lớn nhỏ, đền tháp.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình ảnh: Tháp That Luang - di sản văn hóa thế giới, biểu tượng văn hóa Phật giáo và hiện được coi là biểu tượng của nước Lào.

 

Khoảng 60% dân cư là dân tộc Lào theo nghĩa hẹp, nhóm cư dân thống lĩnh trong chính trị, văn hóa sinh sống ở các khu vực đất thấp. Dân tộc Lào bắt nguồn từ người Thái di cư từ Trung Quốc xuống phía nam khoảng thiên niên kỷ 1 trước công nguyên. 8% dân cư thuộc các sắc tộc khác ở vùng đất thấp cùng với người Lào được gọi chung là Lào Lùm.

          Các dân tộc sinh sống ở vùng cao là người H'Mông (Mèo), Dao (Yao hay Miền), Thái đen, Shan và một ít người gốc Tây Tạng-Miến Điện, sống tại các khu vực cô lập của Lào. Các bộ lạc vùng cao với một di sản ngôn ngữ sắc tộc hỗn hợp ở phía bắc của Lào. Một cách tổng quát họ được biết đến như là người Lào Sủng hay người Lào vùng cao. Các vùng núi ở trung tâm và miền nam là nơi sinh sống của các bộ lạc thuộc sắc tộc Môn-Khmer, được biết đến như là người Lao Thơng. Có một ít người là gốc Việt Nam, chủ yếu ở các thành thị, nhưng nhiều người đã rời khỏi đây sau khi Lào giành độc lập cuối những năm thập niên 1940 và sau 1975. Thuật ngữ Lào không nhất thiết phải chỉ đến ngôn ngữ, dân tộc Lào hay tập quán của người Lào mà nó bao hàm ý nghĩa chính trị nhiều hơn. Nó có thể bao hàm cả các sắc tộc không phải là người Lào gốc nhưng đang sinh sống ở Lào và là công dân Lào. Tương tự như vậy từ "Lào" có thể chỉ đến những người hay ngôn ngữ, văn hóa và ẩm thực của những người thuộc sắc tộc Lào đang sinh sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan (Isan). Tôn giáo chính là Phật giáo nguyên thủy, cùng với những điểm chung của thờ cúng linh vật trong các bộ lạc miền núi là sự cùng tồn tại một cách hòa bình của thờ cúng tinh thần. Có một số ít người theo đạo Kitô và đạo Hồi.

            Ngôn ngữ chính thức và chi phối là tiếng Lào, một kiểu phát âm của Nhóm ngôn ngữ Thái. Người Lào vùng trung và cao nguyên nói tiếng của bộ lạc mình.

Đất nước Lào có truyền thống lịch sử lâu đời, truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm anh dũng kiên cường. Lào là quốc gia đất không rộng, người không đông nhưng có truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm và đoàn kết sát cánh với nhân dân Việt Nam, Campuchia đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược cùng tay sai phản động. Sau hơn 30 năm ròng rã đấu tranh, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân Lào đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn. Việc khai sinh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (02/12/1975) đã kết thúc vẻ vang cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các bộ tộc Lào kéo dài suốt 197 năm kể từ khi phong kiến Xiêm đặt ách thống trị Lào vào năm 1778. Đây là một thắng lợi oanh liệt nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của nhân dân các bộ tộc Lào. Với thắng lợi này, nhân dân các bộ tộc Lào bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, hòa bình và tiến bộ.

 

Lào là xứ sở của lễ hội, tháng nào trong năm cũng có. Mỗi năm có 4 lần tết: Tết Dương Lịch, Tết Nguyên Đán (như ở một số nước Á Đông), Tết Lào (Bun PiMay vào tháng 4) và Tết H'mong (tháng 12). Vì đạo phật ở Lào có tự lâu đời phát triển mạnh trở thành quốc đạo, các nhà chiêm tinh học tính ngày tháng theo phật lịch, nên năm mới hàng năm bắt đầu vào tháng tư dương lịch. Người Lào gọi tết là vui tết chứ không gọi là ăn tết, tất cả các cuộc vui được chuẩn bị theo truyền thống tôn giáo, phù hợp với phong tục tập quán của người Lào. Nền văn hóa độc đáo của người Lào được thể hiện trong những ngày lễ hội vui chơi là chủ yếu, tuy nhiên họ cũng chuẩn bị đồ ăn, thức uống thịnh trọng hơn ngày thường, đặc biệt là không thể thiếu rượu. Ngày tết từ sáng sớm dân làng diện những bộ đồ đẹp nhất, nhất là chàng trai, cô gái với đủ áo váy màu sắc sặc sỡ, tập trung tại sân chùa để dự lễ tắm phật.

 

 

Hình ảnh: Lễ hội té nước ở Lào


Nhân dân các dân tộc Lào rất thích ca múa, đặc biệt là các làn điệu dân ca truyền thống. Không chỉ trong những ngày lễ hội, vui chơi hợp quần… người Lào còn hay ca hát trong sản xuất ngoài ruộng nương, đi hái lượm trong rừng, xuôi ngược trên các dòng sông. Dân ca Lào rất phong phú, giàu âm điệu, mang đậm bản sắc dân tộc được phổ biến rộng rãi trong nhân dân từ nông thôn đến thành thị. Dân ca của Lào có nhiều loại như lăm, khắp, xỡng, kạp, ăn nẳng-xử… Mỗi loại lại mang sắc thái riêng của từng miền, từng dân tộc, từng địa phương. “Lăm” sử dụng nhiều thể loại thơ nhất được quần chúng ưa thích nhất và phổ biến trong cả nước. Văn hóa nghệ thuật độc đáo của Lào còn thể hiện trong các điệu múa phổ biến rộng rãi, từ thành thị đến nông thôn. Trong những ngày lễ hội lớn nhỏ ở Lào đều tổ chức vui chơi hợp quần trong đó không thể thiếu tiết mục múa. Có điệu múa một người, hai người hoặc tập thể vài chục người (lăm-vông). Những đêm hội, già trẻ, gái trai đều tham gia múa ca một cách tự nhiên thoải mái. Các điệu múa của Lào thường uyển chuyển, nhịp nhàng theo nhịp trống, động tác khá tự do, mang đậm màu sắc văn hóa dân tộc.

  1. văn hóa trang phục, dân tộc Lào mặc quần áo gần giống người Thái, nhưng có những nét riêng thể hiện tính chất của dân tộc mình. Đàn ông Lào thường cắt tóc ngắn,mặc quần đùi, áo cổ tròn, tay ngắn, bên ngoài quấn chiếc xà-rông (khăn dài) màu hoặc kẻ ô, họ thường xăm hình chữ "vạn" vào cổ tay và hình con vật vào đùi. Phụ nữ thường mặc mặc váy đen quấn cao đến ngực, dài đến bắp chân, gấu váy thêu nhiều hoa văn sặc sỡ.Đường viền thêu hình hoa lá, chim muông, hình rồng. Áo phụ nữ mặc ngắn, để hở phần ngực trên. Nút áo là những nút bằng đồng hay bằng bạc.Họ xăm hình rau bợ ở mu bàn tay và đeo các trang sức như bông tai, nhẫn, dây chuyền. Phụ nữ một số vùng cũng có cách trang trí áo khác nhau,như phụ nữ Lào ở Điện Biên thì thiết kế nút áo bằng dải vải màu xanh có đính những đồng tiền bạc.Hai bên nách áo được may thêm một tua vải đỏ cài thêm những quả lục lạc hình quả trám bằng bạc, dây thắt lưng bằng bạc. Đi kèm với bộ trang phục ,là chiếc khăn đội đầu. Tùy theo địa phương, phụ nữ Lào dùng khăn đội đầu khác nhau.Có vùng thường dùng chiếc khăn Piêu để chít nhọn đầu, có vùng thì quấn một đuôi khăn thõng xuống bên vai. Phụ nữ Lào lúc còn nhỏ để tóc, nhưng trên 10 tuổi thì phải bới tóc. Thiếu nữ chưa chồng thì búi tóc lệch một bên,còn phụ nữ đã có chồng thì búi tóc thẳng giữa đỉnh đầu. Ngoài 50 tuổi, họ thường cắt tóc ngắn. Cách ăn mặc của người Lào từng vùng tuy có những nét khác nhau về hình thức, nhưng nhìn chung vẫn giống nhau về kiểu dáng.

 

Hình ảnh: Trang phục của người Lào.

Về văn hóa ẩm thực. Người Lào ăn gạo là chính; các món ăn có đặc điểm là dùng những gia vị như gừng, me, lá chanh, và nhiều loại ớt khô rất cay. Vị chính trong các món ăn hầu hết các món ăn đều có rất nhiều ớt. Chỉ riêng ớt có hàng chục món: từ ớt chiên giòn, ớt muối chua, ớt sa tế, ớt hầm, ớt luộc … Món ăn tiêu biểu của người Lào là sự pha trộn giữa cay và ngọt, được trung hòa thêm thảo mộc. Mắm cá (pa dek) và mắm Cheo gồm da trâu, ớt nướng, tỏi nướng, riềng nướng, đường cùng nhiều gia vị thảo mộc trộn lẫn hoặc mắm Muok gồm lòng cá trộn ớt, sả, củ hành… hầu như nhà nào cũng có và nước mắm (nám pla) được người Lào sử dụng hết sức phổ biến.

 

 

Hình ảnh: Món gà nướng ở đất nước Lào

 

Nhân dân Lào cần cù, chăm chỉ và ham học hỏi. Lao động cần cù, thông minh, sáng tạo cũng là giá trị lớn của văn hóa truyền thống các bộ tộc Lào. Bằng sức lao động cần cù, trí thông minh và bàn tay khéo léo, nhân dân các bộ tộc Lào đã sáng tạo ra các công trình văn hóa lâu đời và lưu giữ những di sản văn hóa mang đậm nét bản sắc, truyền thống độc đáo đến ngày nay. Ngay ở các nơi có di chỉ đồ đá đã thấy thể hiện bàn tay khéo léo của người Lào cổ trong chế tác công cụ theo những hình dáng nhất định, đầy công phu và loại hình phong phú. Với bàn tay cần cù, khéo léo và khối óc sáng tạo của con người Lào mà nhờ đó, ba đồng bằng trở thành ba vựa lúa phì nhiêu, các cao nguyên trở thành vùng đồi xanh ngút ngàn đủ thứ cây trồng công nghiệp: cà phê, chè, cao su, cây ăn quả… Nền văn minh nông nghiệp lúa nước là đặc trưng của kinh tế - văn hóa Lào cổ, kết hợp với nông nghiệp lúa khô trên nương rẫy và ngư nghiệp, lâm nghiệp, nghề thủ công một cách tương đối ngang bằng. Phản ánh nền tảng kinh tế, văn hóa truyền thống của các bộ tộc Lào không hướng đến những sự khám phá vĩ đại mà luôn gắn liền với tinh thần nhân văn. Đặc biệt, các công trình kiến trúc điển hình của Lào là chùa và tháp đã thể hiện sự sáng tạo tìm tòi của người thợ thủ công.

Đất nước, con người và nền văn hoá Lào quả là đang mang trong mình nguốn sức mạnh vô biên, ẩn chứa biết bao điều kỳ diệu, đó chính là tiềm năng và là nguồn nội lực to lớn. Tiềm năng và nguồn lực to lớn đó đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào trân trọng, giữ gìn, bồi đắp và phát huy trong thời đại mới, thời đại hội nhập và phát triển.

Ngày 12/10/1975, tại Thủ đô Vientiane, Chính phủ Lâm thời Lào Itsala được thành lập, thông qua Hiến pháp và tuyển bố nền độc lập trước thế giới. Ngày 14/10/1975, Việt nam là nước đầu tiên gởi điện chúc mừng và tuyên bố từa nhận Chính phủ Lào độc lập. Ngày 30/10/1975, hai nước đã ký Hiệp ước Hợp tác tương trợ Việt-Lào, đánh dấu mốc phát triển tốt đẹp trong quan hệ: không chỉ trong quan hệ đoàn kết giữa hai dân tộc anh em, quan hệ giữa nhân dân hai nước, mà còn trên tầm quan hệ gắn bó giữa hai quốc gia.

Ngày 05/09/1962, dưới sự dẫn dắt sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Liên minh chiến đấu của quân và dân hai nước được tăng cường và dãy Trường Sơn hùng vĩ với hai nửa Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây đã trở thành hình ảnh sinh động của mối quan hệ keo sơn “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” trong những năm tháng gian khổ nhưng đầy vinh quang này.

Kế thừa di sản quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy truyền thống quý báu được xây dựng từ nhiều thế hệ, từ sau ngày hai nước được hoàn toàn giải phóng, quan hệ hai nước Việt Nam-Lào bước vào giai đoạn mới chặc chẽ hơn, toàn diện hơn. Ngày 18/7/1977, Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Lào được ký kết. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, đánh dấu mốc phát triển mới của mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước, giúp nhau khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh; làm thất bại âm mưu bao vây cấm vận, phá hoại của các thế lực thù địch; xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

 

 

Việt Nam và Lào là hai quốc gia trên bán đảo Đông Dương, hai nước láng giềng anh em, cùng nhau tựa vào dãy Trường Sơn, có quan hệ hữu nghị, truyền thống tốt đẹp lâu đời. Phát huy tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, nhân dân hai nước Việt Nam - Lào đã kề vai sát cánh, cùng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước và phát triển của mỗi quốc gia. Tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt của nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam sẽ ngày càng tình nghĩa thủy chung như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Việt-Lào hai nước chúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà-Cửu Long”

Hiện nay, trước tình hình thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức phức tạp, khó lường, sự gắn bó mật thiết, truyền thống mẫu mực, thủy chung, trong sáng và quan hệ đạc biệt, quan hệ toàn diện giữa hai nước Việt Nam-Lào vẫn luôn được các thế hệ lãnh đạo đảng, nhà nước và nhân dân hai nước tăng cường, mở rộng, trở thành tài sản vô giá của cả hai dân tộc. Đúng như lời nhắn nhủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Thương nhau mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua

Việt-Lào hai nước chúng ta

Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”./.

 

 

 

 

Bài viết liên quan